Đền Sừng cổ kính giữa lòng đồng bằng trù phú

Cây đa- bến nước- mái đình luôn là hình ảnh quen thuộc trong mỗi làng quê bắc bộ, trong đó, vùng xứ nghệ cũng có những mái đình là nơi hội họp của cả làng.Huyên Yên Thành là một trong những huyện có từ lâu đời, một vùng đất cổ với nhiều di tích lịch sử , trong đó có Đình Sừng – di tích cổ và đẹp nhất của huyện Đông Thành xưa với hơn 500 năm tồn tại.
Đình Sừng nằm sừng sững ở phía Đông Nam thuộc xóm 5 xã Lăng Thành, một vùng bán sơn địa, cách thành phố Vinh 65 km về phía Tây Bắc và cách huyện lỵ Yên Thành 7km về phía Đông Bắc. Từ lúc xây dựng đến nay, vị trí, tên gọi không thay đổi nhưng tên gọi đơn vị hành chính các cấp có sự thay đổi qua các thời kì của lịch sử.

Đình Sừng ngày nay

Du khách có thể đến thăm đình Sừng bằng nhiều cung đường với nhiều phương tiện khác nhau nhưng thuận lợi hơn cả vẫn là đi bằng ô tô hoặc xe gắn máy nếu ở gần, đi phương tiện hàng không với vé máy bay giá rẻ đi Vinh, rồi sử dụng xe đưa đón sân bay Vinh về về Yên Thành tìm hiểu chùa Sừng.

Làng Quỳ Lăng xưa có tên là gọi là kẻ Sừng, đây là một ngôi làng cổ, có địa thế tương đối độc đáo, trước mặt là cánh đồng rộng lớn, sau là núi cao trùng điệp, một vùng đất không những thuận lợi cho việc phòng thủ trong chiến tranh, tiến có thể đánh, lui có thể giữ mà còn có nhiều lợi thế về phát triển kinh tế như trồng và khai thác rừng, chăn nuôi, trồng lúa nước, hoa màu… Chính vì lợi thế độc đáo đó mà vùng đất kẻ Sừng đã sớm trở thành nơi tụ tập dâ cư, trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của vùng Diễn Châu xưa.

Những mảng chạm khắc tinh xảo trong đình

Theo các văn bia hiện còn lại tại đình Sừng thì đình Sừng được nhân dân làng Quỳ Lăng bắt đầu xây dựng vào tháng 11 năm 1583 để làm nơi hội họp, sinh hoạt văn hóa của dân làng.Trước đây đình được xây dựng bằng những nguyên liệu tre, nứa sẵn có, nằm giữa một vùng dân cư đông đúc, xung quanh có làng mạc trù phú gắn liền cây đa, bến nước và con sông Sừng uốn khúc như dải lụa mềm chở nặng phù sa tắm mát cho ruộng đồng. Bên ngoài đình có lối kiến trúc cổ đặc sắc như cầu đá, cổng làng… đã tôn vinh vẻ đẹp độc đáo, tinh túy của ngôi đình cổ. Đến năm 1797, làng dựng thêm tòa Hậu cung để làm nơi thờ các vị thần Thành hoàng của làng.

Hình rồng trong kiến trúc đình

Trong quá trình tồn tại và phát triển, đình đã được tu sửa nhiều lần vào các năm 1637, 1677, 1797, 1844, 1913 và đến năm 1929 đình được trùng tu, xây dựng lại to đẹp như ngày nay theo kiến trúc thời Nguyễn . Hai nhà Tả vu và Hữu vu cũng được xây dựng trong thời kì này. Đến nay, địa phương vẫn còn truyền miệng nhiều thơ ca dân gian phản ánh phần nào không khí sôi động của làng trong lần tôn tạo, xây dựng đình năm 1929 như sau:

“Bấy giờ họp xã đinh, tiền
Người bỏ vô điện, người bỏ vô đình
Dưới trên ai nấy thuận tình
Trống đánh rập rình reo ca cả đêm
Ba năm kéo gỗ một miền
Đắp nền thuê thợ tức thì làm ngay”.

Nhưng từ sau những năm 1930 – 1931, các kiến trúc cổ quanh đình đã dần bị mất mát và hư hỏng. Đặc biệt là từ khi công trình thủy lợi Vách Bắc được đào đắp, xây dựng vào năm 1978, vùng đất này thường xuyên bị lũ lụt kéo dài nên làng mạc, chợ búa ở quanh đình phải dời đi nơi khác, cảnh quan quanh đình cũng dần thưa thớt.
Hiện nay, đình Sừng nằm giữa một vùng đất rộng bằng phẳng, bốn bề là những cánh đồng rộng lớn, tuy hơi xa nhưng cảnh quan nơi đây vẫn thoáng đãng, mát mẻ. Nằm cách đình một quãng về phía Đông là sông Dinh, 1 đoạn trong hệ thống tưới tiêu Vách Bắc, phía Tây là làng mạc, chợ búa sầm uất nằm xen giữa những vườn đồi và rừng cổ thụ bạt ngàn.

Bia đá ở đình Sùng

Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, đình Sừng vẫn giữ được vẻ đẹp nguyên sơ và gắn liền với những chứng tích lịch sử của đất và người Quỳ Lăng. Trong những năm 1930 – 1931, đình là địa điểm hội họp bí mật của Chi bộ Quỳ Lăng – một trong những Chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Yên Thành.Sau đó, thực dân Pháp dùng làm nơi bắt bớ, giam cầm cách mạng Việt Minh.
Trong kháng chiến chống Mĩ, đình Sừng từng là nơi đóng xưởng dệt của Quân khu 4 trong một thời gian dài.
Ngày nay, đình là trung tâm diễn ra nhiều hoạt động mang đậm bản sắc văn hóa địa phương như tế thần, rước kiệu, hát ả đào, hát chèo, vật cù lộ, đồng thời, đình còn là nơi tổ chức hội họp của các đoàn thể, tổ chức địa phương.
Trước đây đình Sừng trước đây có 5 công trình là Đình, Hậu cung, nhà Tả vu – Hữu vu và một nhà Miếu nhưng nhà Tả vu và Hữu vu đã bị dỡ để làm trường học nên hiện nay còn 3 hạng mục công trình là Đình, Hậu cung và nhà Miếu được làm theo lối kiến trúc thời Nguyễn.
Đình còn có một mảnh vườn diện tích 4.206m2 được trồng rau, cây ăn quả xung quanh là một lớp bờ rào bằng cây xanh.
Tòa đình hai đầu xây tường bẻ góc về phía trước còn hai mặt trước sau để trống. Trên bờ nóc trang trí rất đơn giản, phía ngoài trang trí giống bốn góc mái đều là các đầu đao dạng vân mây, giữa là hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt. Hai đầu tường bít đốc đắp nổi các họa tiết rồng cách điệu rất sinh động. Trong khi bít đốc phải đắp nổi hình tượng rồng rất đơn giản, rõ nét thì bít đốc phía trái được trang trí có vẻ rườm rà nhưng vẫn rất sắc sảo và tinh tế. Đình dài 24,7m, rộng 11,2m, quay mặt về phía Nam, khung làm hoàn toàn bằng gỗ lim, kích thước lớn, lợp ngói âm dương. Nền nhà được làm bằng đất sạn sỏi, có độ cứng cao, móng đình cao hơn 0,5m so với sân và vườn đình. Xung quanh móng được giằng bằng đá ong.
Trong đình có kiến trúc độc đáo, châm trổ tinh vi.
Đình có 2 bia đá được khắc chữ 2 mặt, dụng vào năm 1637, ghi lại lịch sử dựng đền, thời gian tu sủa và sự đóng góp của mọi người.Bia có kiểu dáng đơn giản, mảnh mai và còn nguyên vẹn.

Tòa đình khang trang

Qua tòa đình là khoảng sân lộ thiên rộng 8m là đến nhà Hậu cung. Theo tài liệu kiểm kê di tích năm 1964, thì ban đầu, nhà Hậu cung gồm có 3 gian, với diện tích là 81,6m2. Khung nhà cũng dược làm hoàn toàn bằng gỗ lim, mái lợp ngói âm dương, 3 phía xây tường, đóng mở bằng cửa bàn khoa. Trên các xà, kèo được chạm lộng tinh vi, sắc xảo. Phía trước đắp phù điêu tượng quan văn, quan võ ở 2 bên tường. Trong nhà có bài trí 2 long ngai, 2 hương án và nhiều đồ tế khí đẹp, trong đó có một lư hương đá cao 0,24m được làm vào năm 1875. Nhưng do chiến tranh mà tòa hậu cung đã bị phá dỡ trong chiến tranh chống Mỹ.

Ngoài ra, ngôi đình cổ này còn nhiều công trình khác, tuy nhiên đến nay, ngôi đình chỉ còn lại một số công trình chính cùng văn bia, đây trở thành một địa điểm diễn ra các lễ hội, cuộc vui của làng.
Có thể nói, Đình Sừng là một trong những công trình kiến trúc cổ, có quy mô đồ sộ, nghệ thuật trang trí, điêu khắc chạm trổ đẹp vào loại bậc nhất ở Nghệ An. Với những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, năm 2004, Đình Sừng đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Đến năm 2010, được sự hỗ trợ của nhà nước, chính quyền địa phương đã đầu tư trùng tu, nâng cấp một số hạng mục, nhằm giữ gìn những tư liệu quý, giúp cho các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc của di sản văn hóa cổ và cũng là nơi giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau. Đình Sừng xứng đáng là điểm đến của du khách khi đến với xã Lăng Thành nói riêng, huyện Yên Thành nói chung, và là biểu tượng của lịch sử dân tộc tại huyện, chứng tỏ một làng quê trù phú bên dòng sông có từ thời xưa với những nét văn hóa dân tộc.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *