Nhà thờ Phan Đình-Phúc Thành

Cha ông ta có câu :

Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu
Người ta có nguồn gốc từ đâu?
Có tổ tiên trước rồi sau có mình.!.

Bởi vậy, nhớ về cội nguồn, nơi ta sinh ra là một nghĩa cử cao đẹp, thể hiện lòng thành kính của mỗi người con đối với đất tổ.Đối với dòng họ Phan Đình, một trong những dòng họ lớn đã khai sinh ra những làng mạc trù phú ở vùng đất lúa thì tổ thờ đã là nơi con cháu trở về mỗi dịp xuân sang.Con cháu dù ở nơi nào trên cũng tìm về thắp nén nhang thơm trên bàn thờ để cảm tạ tổ tiên.Và trong thời kinh tế phát triển hiện nay, những người con dòng họ Phan Đình đã kết nối với nhau, cùng nhau việc trở về quê hương với vé máy bay giá rẻ đi Vinh. Không những thế, cùng với sự hỗ trợ về xe đưa đón sân bay Vinh sẽ là điều kiện tuyệt vời cho những người con xa quê.
Nhà thờ họ Phan Đình thuộc xã Phúc Thành quay mặt về phía Đông Nam, được xây dựng trên một vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa lâu đời.Từ nhà thờ, các bạn có thể phóng tầm mắt ra những ruộng đồng bát ngát mênh mông mà như ca dao từng nói: ” đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát – đứng bên tê đồng- ngó bên tê đồng bát ngát mênh mông. Cái cảm giác đó khiến lòng người yên bình đến lạ. Dường như vùng đất sinh ra từ cây lúa này luôn mang lại cho người đến trở về nơi chôn rau cắt rốn.Cách Nhà thờ 2km về phía Tây Bắc là đình Liên Trì thuộc xã Liên Trì – di tích Lịch sử Quốc gia – nơi ghi dấu những sự kiện lịch sử cách mạng của làng Liên Trì nói riêng của huyện Yên Thành nói chung. Về phía Đông khoảng 1km là lèn đá và Nhà thờ đá Bảo Nham xã Bảo Thành – một công trình kiến trúc tôn giáo bằng đá nổi tiếng của huyện Yên Thành, được xây vào cuối thế kỷ XIX.Có thể nói, đây là vùng đất quần tụ của nhiều di tích lịch sử trong huyện.

Nhà thờ Phan Đình

Đến thăm di tích, du khách không những được kính viếng các bậc danh nhân, lưu niệm sự kiện mà còn được tham quan một công trình kiến trúc cổ mang đậm phong cách thời Nguyễn.

Bên cạnh đó, hiện nay Nhà thờ còn lưu giữ rất nhiều tài liệu, hiện vật quý, có giá trị quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của những nhân vật được thờ trong Nhà thờ. Không những thế, nó còn là những minh chứng cho tinh thần sáng tạo của các bậc tiền nhân và là nguồn tư liệu quý phục vụ cho công tác nghiên cứu lịch sử địa phương cũng như lịch sử dân tộc.
Cổng Nhà thờ có kiến trúc rất độc đáo, được thiết kế theo kiểu vòm cuốn, xây bằng gạch vôi vữa, rộng 2,1m. Chính giữa cổng phía trên đắp nổi 5 chữ “Nhà thờ họ Phan Đình”. Hai bên cổng là đôi cột trụ cao 1,78m. Cột được kết cấu làm 3 phần là chân, thân và đỉnh cột, thân được đắp gờ chỉ được nhấn bởi một đôi câu đối bằng chữ Hán:

“Sắc môn cát khánh gia nguyên tiễn

Mạn đường vinh hoa thế trạch trường”.

Nghĩa là:

“Khắp cửa sum vầy nếp nhà vui

Đầy nhà vinh hoa đời đời vững”.

Toàn bộ di tích được xây dựng khép kín, trở thành nơi thờ cúng của dòng họ.Khuôn viên của Nhà thờ có diện tích là 541m2, ngoài cổng và tường bao còn có sân, vườn, nhà Hạ điện, nhà Trung điện, nhà Thượng điện và nhà tiếp khách.Tất cả công trình trong nhà thờ được bài trí theo kiến trúc cổ xưa.Hai bên lối nhỏ vào sân đình là hòn nom bộ, khiến cho phong cảnh nhà thờ trở nên hữu tình. Di tích nhà thờ Phan Đình mang đậm phong cách kiến trúc thời Nguyễn, có bố cục chặt chẽ, kết cấu vững chắc, vừa đáp ứng được yêu cầu tôn nghiêm nơi thờ tự, vừa phù hợp với yêu cầu phòng chống bão lụt và khí hậu khắc nghiệt của miền Trung.
Cũng như những nhà thờ khác, theo phong thủy của người Việt, phía trước sân là ột tắc mốn được xem như bức bình phong chắn gió độc và ngăn chặn mọi lực lượng xấu muốn xâm hại đến Nhà thờ. Tắc môn mang được tạo hình như bức áng thư cổ mà chúng ta thường thấy trong các nhà thờ ở nước ta. Tắc môn được dựng vào năm 1998, cao 1,5m, rộng 0,8m, dày 22cm, được làm bằng chất liệu gạch vôi vữa. Bên dưới xây bệ đỡ, trên bệ đỡ đặt 1 bát hương bằng sứ.
Hai bên sân là hai cột nanh, chân cột hình vuông, thân cột được nhấn bởi một đôi câu đối bằng chữ Hán:

“Bách thế y quan trường cân mỹ

Thiên niên sơn thủy vĩnh triều tông”.

Được dịch là:

“Trăm năm áo mũ bền thêm đẹp

Nghìn đời sơn thủy vững non sông”.

Phía trên cùng của trụ được thể hiện hình tượng 2 con nghê chầu vào nhau. Nghê được tạo trong dáng khỏe mạnh, hai chân trước vươn lên trên, hai chân sau đứng trụ vững chắc trên bệ vuông, đuôi uốn cong trông rất sinh động.

Bao bọc toàn bộ khuôn viên Nhà thờ là vườn rộng 289m2. Trong vườn được trồng hoa màu và một số cây ăn quả, đó là cây chanh, cây ổi, cây chuối. Tất cả đã làm cho không gian của di tích thêm thoáng đãng và hài hòa.

Không chỉ có nơi thờ tự , trong nhà thờ còn có nhà tiếp khách. Đây là nơi để con cháu hội họp, bàn việc tế lễ và là nơi ngồi nghỉ của con cháu khi đến tế lễ, của du khách khi đến viếng thăm, và nơi đây chỉ đặt 1 cái phản được ghép từ 2 tấm gỗ.

Tiếp theo là nhà Hạ điện mái lợp ngói âm dương và được thiết kế theo kiểu chồng diêm cổ kính, gồm 4 mái. Hai mái dưới rộng phủ trùm cả công trình, hai mái trên nhỏ hơn, vừa che kín phần chồng diêm, vừa làm nơi trang trí các họa tiết hoa văn góp phần làm tăng thêm vẻ đẹp uy nghi cho cả công trình. Ngăn cách giữa các mái trên và mái dưới là những bức tường xây bằng gạch, vôi, vữa và trang trí các họa tiết hoa văn.
Đặc biệt, với những dòng họ cổ, có nhiều năm gắn bó với một vùng đất nào đó, thì trong nhà thờ thường được trang trí bằng nhiều câu đói có ý nghĩa, lời văn đẹp đẽ.Trong hạ điện ở giữa có 2 chữ Hán “Huỳnh dương”, bên phải viết “Xuân lộ thu sương”, bên trái viết “Thanh phong minh nguyệt”, xung quanh được trang trí hoa văn hình học, hoa văn vân mây… Các đầu đao được đắp cách điệu hình rồng, hình phượng rất tinh xảo, cho thấy được tài năng và tính sáng tạo của của cha ông xưa
Kết cấu nhà hạ điện giống kiến trúc cổ với hai cột nanh có chức năng nâng đỡ mái hoàn toàn làm bằng gỗ lim.Chính những mảng điêu khắc trong nhà thờ đã tạo nên một giá trị lớn cho kiến trúc.Hạ điện là nhà sinh hhoatj cộng đồng nên được bài trí đơn giản với bộ đồ thờ tự.

Qua nhà Hạ điện là đến nhà Trung điện. Nhà Trung điện có nền nhà cao hơn so với nhà Hạ điện là 0,3m, được lợp ngói âm dương, bờ nóc, bờ giải đắp thẳng, phía sau cũng để thông với nhà Thượng điện.Nhìn chung kiến trúc nhà trung điên tương đối đơn giản
Trên câu đầu, cổ nghé, đòn bẩy… các nghệ nhân đã phối hợp giữa kỹ thuật bào trơn, xoi chỉ ở đường xà tạo nên cảm giác chắc chắn, vững chãi.

Đây là nơi con cháu gần xa về thắp hương đầu xuân

Gian giữa nhà Trung điện đặt một kiệu bành được chạm khắc rất công phu với các đề tài chủ yếu là tứ linh, tứ quý và được sơn son thếp vàng lộng lẫy, trong đó hình rồng chầu được khắc họa đậm nét nhất. Bằng nghệ thuật chạm phù điêu sắc sảo, hình tượng rồng chầu được miêu tả rất cụ thể với đầy đủ các bộ phận đầu, mình, đuôi thật mềm mại và rất có thần. Trên hầu hết các chi tiết của đòn kiệu, đế kiệu và bành kiều đều được chạm khắc hình tường rồng chầu, hổ phù và chim phượng. Các mảng chạm phù điêu hình tượng hổ phù trên bành kiệu cũng là những mảng chạm đẹp và mang tính cách điệu hóa cao. Trên kiệu bành trang trí một số đồ thờ như lư hương, mâm chè, cọc nến, tất cả đều bằng gỗ và được sơn son thếp vàng. Hai bên kiệu còn có một cái tàn gỗ, 4 thanh kiếm gỗ, 2 biển gỗ khắc 4 chữ Hán “Tĩnh – Túc – Hồi – Tỵ” sơn son thếp vàng.

Hai gian bên cạnh là nơi thờ hậu duệ của dòng họ Phan Đình, từ tổ đời thứ 5 đến đời thớ 14 và được bài trí giống nhau. Chính giữa đặt 1 bàn thờ hai cấp bằng gỗ. Bàn thờ cấp 1 được dành để bày đặt lễ vật của con cháu trong mỗi kỳ tế lễ, ngày mùng 1, ngày rằm và ngày giỗ tổ. Trên bàn thờ cấp 2 đặt 1 lư hương, 1 mâm chè, 1 đôi cọc nến. Tất cả được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng.
Kế tiếp là nhà thượng điện,nó không chỉ có giá trị về mặt sử dụng mà còn có giá trị về mặt điêu khắc. Trên các câu đầu, cổ nghé, đầu bẩy, các nghệ nhân đã phối hợp giữa kỹ thuật bào trơn, soi chỉ, chạm bong kênh đề tài hình học kết hợp với hệ thống chuyền chụp tạo cho khung nhà thêm khỏe mạnh.

Nhà Thượng điện được bố trí thờ dọc. Ngoài cùng là hương án bằng gỗ, sơn son thếp vàng, được chia thành nhiều ô. Phía trước chạm mật hổ phù và các con vật trong bộ tứ linh, ở các góc được trang trí hoa lá. Trên hương án, chính giữa đặt 1 lư hương gỗ, 1 giá đọc chúc văn, 1 mâm chè đặt 1 bộ chén, bình rượu và ấm sứ.
Có thể nói, tổng thể nhà thờ là một kiến trúc truyền thống được điêu khắc và chậm trổ tinh xảo với những nét vân mây, rồng phượng, cũng như những câu đối trong nhà thờ có giá trị lớn trong việc nghiên cứu lịch sử địa phương và văn hóa xóm làng nước ta.Đây cũng chính là niềm tự hòa của con cháu dòng họ mà dù đi đâu về đâu luôn nhớ tới tiên tổ.
Từ năm 1975 đến nay, Nhà thờ là nơi tưởng niệm và thờ phụng các bậc tiên tổ của dòng họ Phan Đình, là nơi sinh hoạt văn hóa của con cháu trong dòng họ và nhân dân địa phương. Hàng năm, cứ đến ngày 18 tháng Giêng con cháu dòng họ lại cử hành cúng tế tổ tiên và ngày 18 tháng 3 âm lịch, là ngày giỗ ông Phan Hàm Mậu, con cháu dòng họ Phan Đình và nhân dân lại hội tụ về Nhà thờ để tế lễ và tổ chức lễ hội, tỏ lòng thành kính tưởng niệm các vị tiên tổ theo nghi lễ cổ truyền gồm các lễ khai quang, lễ yết cáo, lễ tế, trong phần hội còn tổ chức các trò chơi dân gian giữa các chi trong họ như chọi gà, đấu vật, cờ tướng… Đó đều là những sinh hoạt văn hóa lành mạnh và bổ ích, phần nào phản ánh được bản sắc văn hóa của địa phương cũng như truyền thống trọng đạo nghĩa vốn có từ ngàn xưa của một vùng quê mang đậm bản sắc xứ Nghệ.

Để ghi nhận và tôn vinh sự đóng góp của Nhà thờ họ Phan Đình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, ngày 31 tháng 9 năm 2009, Chủ tịch tỉnh Phan Đình Trạc đã ký tặng Bằng khen cho Nhà thờ họ Phan Đình đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *